Các yếu tố dẫn đến sự cách li các cá thể, các cặp, hay các nhóm nhỏ của một quần thể trong không gian không phổ biến như những yếu tố gây nên sự tụ họp. Nhưng rất quan trọng vì chúng không chỉ nâng cao sự thích nghi mà còn có thể tham gia vào điều chỉnh số lượng của quần thể. Sự cách li thường xảy ra do sự cạnh tranh về nguồn sống giữa các cá thể và tính lãnh thổ. Từ đó, dẫn đến sự phân bố ngẫu nhiên hay phân bố đều các cá thể trong không gian. Nếu không gian này được bảo vệ nghiêm ngặt, không chồng chéo sang phần của "láng giềng" thì được gọi là lãnh thổ.
Tính lãnh thổ được thể hiện rõ ở các động vật có xương sống, một số động vật chân khớp có tập tính sinh sản phức tạp (xây tổ, đẻ trứng và bảo vệ con non).
Khác với tụ họp, sự cách li của các cá thể trong quần thể có thể làm giảm sự cạnh tranh về nguồn sống thiết yếu, bảo đảm những cái cần cho những chu kì sinh sản phức tạp. Trong thiên nhiên đa dạng cách sống tụ họp và cách li xuất hiện ngay trong một quần thể, biến đổi theo hoạt động chức năng cũng như các điều kiện khác nhau ở từng giai đoạn và thời kì sống. Ví dụ, cách li lãnh thổ trong khi sinh sản, họp đàn khi trú đông hoặc săn mồi. Ở độ tuổi hoặc giới tính khác nhau, các cá thể cũng có cách sống khác nhau: con non thích tụ họp, con trưởng thành ưa cách li.
Tính lãnh thổ là cách điều chỉnh việc sử dụng nơi sống và nguồn sống. Nó thường xuất hiện trong sự phân bố của các nhóm động vật. Ví dụ, cua biển ở bãi biển Hawai (Mĩ) ngăn cản không cho những cá thể làm tổ trong phạm vi bán kính $70cm$ cách tổ của chúng. Những loài ăn thịt và ăn mồi thường có lãnh thổ rộng.
Tính lãnh thổ gây ảnh hưởng xác định đến sự thích nghi di truyền. Do vậy, trong những loài có tập tính lãnh thổ, cá thể nào không duy trì được lãnh thổ của mình thì không có khả năng sinh sản. Tính lãnh thổ cũng giúp cho con vật sống ổn định lâu dài trong vùng phân bố, nên những loài có tập tính lãnh thổ thường có phương thức điều chỉnh sự sinh sản và chuyển nhượng nơi ở một cách hợp lí. Theo nghiên cứu của H.N.Souther về đời sống một loài cú trong môt năm tại một vùng sống: có $8$ trong số $25$ đôi cú không sinh sản, $9$ đôi khác có đẻ nhưng không ấp trứng ngay từ đầu, $2$ đôi khác đẻ nhưng lại để con chết đói, $6$ đôi còn lại đẻ trung bình $3$ trứng/đôi. Cuối cùng chỉ có $18$ cú con đủ lông đủ cánh, trong khi đó có $11$ cá thể trưởng thành bị chết. Tuy số con non sống sót ít, nhưng cũng làm tăng kích thước quần thể mà nơi sống không đủ dung nạp. Vì vậy, $7$ con không có chỗ ở phải dời đi chỗ khác. Ví dụ trên đã cho chúng ta thấy rằng, sự cạnh tranh trong nội bộ loài về nguồn sống và nơi ở đã dẫn đến sự duy trì một lượng cú ăn đêm ở mức ổn định.