Có hai môi trường sống cơ bản của thực vật đó là môi trường nước và môi trường trên cạn.
- Ở môi trường nước: cây có thân dài, lá mảnh, mỏng (như rong, rêu) hoặc nhiều thùy (rong xương cá) hoặc lá rộng bản (cây nong tằm) nổi trên mặt nước thuận lợi cho thu nhận ánh sáng trong quang hợp. Kích thước hình dạng thân phụ thuộc vào độ sâu nông, dòng chảy của nước.
- Ở môi trường trên cạn: có loài sống ở đồi trọc, thảo nguyên, đất cát ven biển, sa mạc thân cây mọng nước để giữ nước, rễ nông tỏa rộng để lấy nước sương đêm (cây thuốc bỏng). Thân mọng nước, lá biến thành gai hạn chế thoát hơi nước (cây xương rồng). Cũng có loài cây có rễ ăn xâu xuống đất tới $16m$ để hút nước (cây cỏ lạc đà ở sa mạc). Ở vùng nhiệt đới có hiện tượng rụng lá về mùa khô hạn để tránh thoát hơi nước. Những đặc điểm thích nghi trên là kết quả của chọn lọc tự nhiên theo những hướng khác nhau trong một thời gian lịch sử nhất định.
Ở động vật, mỗi nhóm quần thể của loài tồn tại trong những điều kiện địa lí, sinh thái khác nhau đã hình thành nhiều đặc điểm thích nghi với môi trường. Theo quan niệm hiện đại, động vật có các đặc điểm thích nghi cơ bản sau:
- Có màu sắc đồng màu với môi trường để lẩn tránh, làm cho kẻ thù khó phát hiện ra chúng như sâu cam có màu xanh của lá cam, bướm nâu sống trên nền đất nâu.
- Có hình dạng bắt chước hình dạng các bộ phận sinh vật khác trong môi trường: sâu đo giống hình thù cành cây có mắt, có đốt của cánh, bướm Kalima khi đậu trên cây giống một cái lá khô nâu.
- Tác động của môi trường còn làm biến dạng cấu tạo cơ thể sinh vật theo hướng có lợi: chân đà điều chạy nhanh, tê tê, chuột chũi có cổ ngắn, chi trước khỏe hình xẻng để bới đất.
- Ngoài ra còn có sự thích nghi bằng cách thay đổi nhịp sinh học nhằm đáp ứng nhanh, có hiệu quả đối với những thay đổi của môi trường.
- Có những loài có màu sắc sặc sỡ kèm với tuyến độ để dọa nạt kẻ thù ăn thịt.